Chứng khoán là gì?
Chứng khoán là một bằng chứng xác nhận sự sở hữu hợp pháp của người sở hữu đó với tài sản hoặc phần vốn của công ty hay tổ chức đã phát hành.
Cụ thể, một cổ phần đại diện cho quyền sở hữu hợp pháp của một doanh nghiệp. Các tập đoàn sẽ phát hành cổ phiếu (cổ phiếu thông thường và cổ phiếu ưu đãi). Cổ phiếu khi được hoán đổi cho nhau thì sẽ được gọi là “chứng khoán”. Như vậy, đầu tư vào thị trường chứng khoán nghĩa là bạn đang mua quyền sở hữu một hay nhiều doanh nghiệp.

Những điểm mới của Luật chứng khoán
Luật Chứng khoán với vai trò là văn bản chủ đạo điều chỉnh các
hoạt động liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán sẽ có tác động
sâu sắc và khá toàn diện đến thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian
tới, đặc biệt là ở những nội dung mà Luật có sự thay đổi, điều chỉnh nhiều so
với các quy định trong Luật Chứng khoán năm 2006 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 62/2010/QH12 và các văn bản hướng dẫn trước đây. Theo
chúng tôi, Luật Chứng khoán thể hiện tính ưu việt ở những khía cạnh sau đây:
Một là, các quy định của
Luật Chứng khoán, về cơ bản, bao trùm hầu hết các hoạt động của thị trường
chứng khoán, bao gồm cả những nội dung về quản trị công ty đại chúng, tỷ lệ sở
hữu của nhà đầu tư nước ngoài, điều kiện chào bán chứng khoán, việc tổ chức và
hoạt động của những chủ thể quan trọng của thị trường chứng khoán như: Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước; Sở giao dịch chứng khoán; Tổng công ty lưu ký chứng
khoán; các quỹ đầu tư chứng khoán; công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ,
công ty đầu tư chứng khoán, ngân hàng giám sát.... Điều này giúp cho việc áp
dụng Luật Chứng khoán trở nên thuận lợi và thống nhất hơn, đảm bảo tính hiệu
lực pháp lý cao và hạn chế được tình trạng tản mạn trong các quy định của pháp
luật. Đây là một minh chứng cho nỗ lực của Việt Nam thực hiện các cam kết quốc
tế về cải thiện và minh bạch môi trường đầu tư, kinh doanh để thu hút các nhà
đầu tư nước ngoài.
Hai là, Luật
Chứng khoán quy định mô hình và cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch chứng khoán
Việt Nam. Đây là bước đi quan trọng nhằm hướng tới việc bảo đảm tính thống nhất
trong quản lý, điều hành thị trường chứng khoán phù hợp với thông lệ quốc tế và
thực tế nhu cầu phát triển thị trường ở nước ta. Theo đó, thị trường giao dịch
chứng khoán sẽ do Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và các công ty con tổ chức,
vận hành thay cho Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao
dịch chứng khoán Hà Nội. Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam là doanh nghiệp được
thành lập và hoạt động theo quy định của Luật này và Luật Doanh nghiệp, do Nhà
nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Thủ
tướng Chính phủ quyết định thành lập, giải thể, mô hình hoạt động, hình thức sở
hữu, chức năng, quyền và nghĩa vụ của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và việc
thành lập công ty con của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam theo đề nghị của Bộ
trưởng Bộ Tài chính. Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con chịu sự
quản lý và giám sát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Đây là mô hình tổ
chức thị trường giao dịch chứng khoán phù hợp theo thông lệ quốc tế và tạo
tiền đề để hình thành chỉ số chứng khoán duy nhất cho Việt Nam thay thế cho
việc tồn tại song song nhiều chỉ số như hiện nay nhằm
phản ánh chính xác và trung thực thị trường tạo thuận lợi cho nhà đầu tư trong
việc phân tích, đánh giá thị trường để đưa ra quyết định đầu tư.
Ba là, việc Luật Chứng
khoán có hiệu lực sẽ làm xuất hiện những công cụ mới như: chứng chỉ lưu ký,
chứng quyền có bảo đảm và một số loại chứng khoán phái sinh khác; từ đó, dẫn
đến nhu cầu hướng dẫn điều chỉnh pháp luật về phát hành và giao dịch các công
cụ này. Bên cạnh đó, Luật cũng bổ sung, mở rộng và làm rõ hơn một số khái niệm
quan trọng như: khái niệm chứng khoán, khái niệm người có liên quan, khái niệm
người nội bộ... Việc bổ sung các quy định về những vấn đề nêu trên cho thấy,
pháp luật chứng khoán Việt Nam đang tiếp cận gần với chuẩn mực chung của nhiều
nước trên thế giới, góp phần bảo đảm cho thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt
động đa dạng, minh bạch và chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu huy động và luân
chuyển các nguồn vốn đầu tư phục vụ phát triển đất nước.
Bốn là, các yêu cầu, điều
kiện về vốn điều lệ khi chào bán chứng khoán được nâng cao hơn để đáp ứng nhu
cầu phát triển, hội nhập của thị trường. Theo quy định của điểm a khoản 1 Điều
15 Luật Chứng khoán, mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ
30 tỷ đồng (thay cho 10 tỷ đồng như trước đây) trở lên tính theo
giá trị ghi trên sổ kế toán. Quy định này là phù hợp với quy mô của nền kinh tế
nước ta, phù hợp với quy mô của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay và cần
thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư, nâng cao chất lượng chứng
khoán chào bán và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nhà đầu tư và cộng đồng.
Năm là, các công ty đại
chúng, công ty niêm yết sẽ phải chú trọng và quan tâm hơn đến vấn đề quản trị
công ty theo những nội dung, yêu cầu và nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế
hơn. Như đã trình bày ở trên, nếu như trước đây vấn đề về quản trị công ty chỉ
được điều chỉnh ở tầm nghị định thì nay các quy định điều chỉnh hoạt động này
đã được luật hóa tại Mục 2, Chương 3 gồm những quy định về nguyên tắc và nội
dung quản trị công ty đại chúng. Những quy định này về cơ bản là phù hợp với
thông lệ tốt nhất về quản trị công ty được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới,
đặc biệt là các nước có thị trường chứng khoán phát triển.
Sáu là, các
quy định về điều kiện và nghĩa vụ của công ty đại chúng được tăng lên để đảm
bảo tính minh bạch và giúp nhà đầu tư/cổ đông tiếp cận được thông tin về tình
hình kinh doanh, tình hình hoạt động để có thể giám sát và lựa chọn cơ hội đầu
tư hiệu quả hơn (Điều 32, 34 và 37). Các quy định này đáp ứng một nhu cầu thực
tế là nhiều công ty đáp ứng điều kiện công ty đại chúng nhưng chưa niêm yết
trên thị trường chứng khoán nên việc tiếp cận các thông tin về tình hình tài
chính và tình hình sản xuất, kinh doanh của công ty còn hạn chế tạo rủi ro cho
nhà đầu tư và hạn chế khả năng giám sát của cộng đồng đối với hoạt động của
công ty. Sự ràng buộc về trách nhiệm công khai, minh bạch của các công ty đại
chúng sẽ góp phần tạo ra môi trường đầu tư ngày cành minh bạch và bình đẳng
hơn.
Bảy là, Luật
Chứng khoán quy định về điều kiện công ty đại chúng, công ty niêm yết mua lại
cổ phiếu của chính mình tương đồng với các quy định trong Luật Doanh
nghiệp năm 2014. Theo đó, hậu quả pháp lý của việc mua lại cổ phiếu quỹ sẽ dẫn
đến việc giảm vốn điều lệ của công ty (Khoản 5 Điều 36) và công ty chỉ được bán
cổ phiếu đã mua lại trong một số trường hợp đặc biệt như: a) Công ty chứng
khoán mua lại cổ phiếu của chính mình để sửa lỗi giao dịch hoặc mua lại cổ
phiếu lô lẻ; b) Công ty đại chúng mua lại cổ phiếu lẻ theo phương án phát hành
cổ phiếu để trả cổ tức, phương án phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu;
c) Công ty đại chúng mua lại cổ phiếu lô lẻ theo yêu cầu của cổ đông (Khoản 7
Điều 36). Quy định này nhằm hạn chế việc công ty đại chúng, công ty niêm yết
mua lại cổ phiếu nhằm mục đích sau đó bán ra thị trường để hưởng chênh lệch
(thặng dư) ảnh hưởng đến nguyên tắc công bằng và minh bạch của thị trường chứng
khoán như đã từng xảy ra trong thời gian qua.
---------------------------------------------
Mọi chi tiết vui lòng liên hệ.
🏢 Địa chỉ: Tầng 3, số 188 Vạn Phúc(ngã tư Vạn Phúc - Tố Hữu), Hà Đông, Hà Nội
📱 Hotline: 0902.198.579
✉️ Email : luatsu@opic.com.vn
Copyright © 2019 OPIC LAW All Right Reserved
Những điểm mới trong luật tạm giữ, tạm giam
Tháng Ba 22, 2019